Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Đôi mắt - Nam Cao


ĐÔI MẮT
Nam Cao
I . ĐẶT VẤN ĐỀ

Đôi mắt là tác phẩm quan trọng nhất của Nam Cao sau cách mạng tháng Tám và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của Văn học Việt nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp . Lúc đầu nhà văn đặt tên là Tiên sư thàng Tào Tháo, nhưng sau này Nam Cao đặt cho nó một cái tên giản dị hơn rất nhiều : Đôi mắt . 

Tác phẩm được viết vào mùa xuân năm 1948 . Tác phẩm nhận đường cho văn nghệ sĩ và đặt ra vấn đề cái nhìn, lập trường , quan điểm, chỗ đứng của người nghệ sĩ trong thời đại cách mạng . Như vậy tác giả đã có sự lựa chọn cân nhắc để đặt nhan đề cho tác phẩm , để qua nhan đề làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng của truyện ngắn này . 
II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

Đọc Đôi mắt ta hiểu ngay vấn đề cách nhìn quần chúng và cuộc kháng chiến khác nhau giữa những người nghệ sĩ có quan điểm lập trường khác nhau, được thể hiện qua Hoàng và Độ là hai nghệ sĩ, hai nhân vật trung tâm của tác phẩm .

Trước hết ta thấy Hoàng không phải nhìn quần chúng với đôi mắt thù địch . Nhà văn này về cơ bản không phải là một kẻ phản động. Hoàng vẫn có những nét đáng trân trọng như thái độ bộc lộ thẳng thắn những suy nghĩ của mình với nhân vật Độ, lòng ngưỡng mộ chân thành với lãnh tụ một cách ngây thơ.  cũng không nên coi những chuyện Hoàng nói về người nông dân là vu cáo hay xuyên tạc. Tất cả bắt nguồn từ đôi mắt nhìn nhận thời cuộc của cá nhân nhân vật Hoàng .

Nhắc đến điều này để thấy rõ bản lĩnh nghệ thuật của Nam Cao. Ông phát hiện và miêu tả đôi mắt của Hoàng từ nhiều góc độ, không đơ giản, một chiều tạo nên sự chấp nhận dễ dãi từ phía người đọc .

Đôi mắt của Hoàng dần dần được thể hiện qua việc anh kể lần lượt những điều tai nghe mắt thấy một cách hóm hỉnh, sắc sảo . Tài quan sát, tài diến đạt hấp dẫn, cộng với năng lực hài hước hóa , lố bịch hóa những gì mình không ưa thích khiến những mẫu chuyện Hoàng kể thật sinh động .

Bằng đôi mắt của mình, Hoàng cảm nhận người nông dân tham gia kháng chiến toàn là những người vừa ngố vừa nhặng xị, hầu hết đều ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam bần tiện . Cha con , anh em chẳng tốt với nhau . Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố nhăng . Viết chữ quốc ngữ sai vần mà cứ hay nói chuyện chính trị rối nhặng cả lên . Sắc sảo, có tài quan sát, nhưng Hoàng hoàn toàn không nhìn thấy bên trong việc cảnh giác quá đáng , ham tuyên truyền cách mạng “động thấy ai đi qua là hỏi giấy”, “hay nói chuyện nói chuyện chính trị”, “đọc thuộc lòng cả bài dài 5 trang giấy” về đường lối kháng chiến “như một con vẹt biết nói kia” là bản chất yêu nước, cách mạng của họ .

Cũng xuất phát từ đôi mắt khinh bạc, thiếu thiện cảm với người nông dân nên Hoàng chẳng những chỉ nhìn thấy mặt nhược điểm đáng cười mà còn ít nhiều phóng đại, cường điệu , hài hước hóa mặt nhược điểm đó để chế nhạo, giễu cợt một cách bất nhẫn . Tác giả đã tường thuật cuộc trò chuyện giữa hai vợ chồng Hoàng với Độ như một minh chứng cho sự bất công trong cách nhìn người, nhìn đời của nhân vật Hoàng . Ở đây nhà văn không cố ý đóng cũi tình cảm của mình để người đọc tự nhận thấy kẻ đáng cười, đáng trách không phải là những người nông dân mà chính lại là vợ chồng Hoàng - những kẻ đang ra sức bêu xấu họ .

Chỉ nhìn thấy nông dân ngu dốt, ngây ngô, tất yếu Hoàng không bao giờ tin vào quần chúng nhân dân mà lực lượng chủ yếu là nông dân sẽ đưa cuộc kháng chiến đến thành công, Hoàng rất nản . Tuy vậy, anh ta lại tin vào tài năng của cụ Hồ, “cứ cho rằng dân mình có tồi đi nữa. Ông cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường” điều này chứng tổ bằng cách nhìn phiến diện, Hoàng đã tạo nên một sự đối lập giữa lãnh tụ và dân tộc.

Với đôi mắt nói trên còn tất yếu dẫn Hoàng đến thái độ chỉ giao thiệp với đám người “cặn bã của giới thượng lưu trí thức”, mà anh ta thừa biết toàn những kẻ “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời”, Hoàng chơi với họ, nhưng có ưa gì họ . Nghĩ cho cùng giữa anh và họ chính là quan hệ của những người cùng hội cùng thuyền . Bởi vậy anh chỉ có thể chơi với họ chứ không cộng tác với những người kháng chiến . Và việc anh “đóng cửa suốt ngày không giám đi đâu nữa” cũng hoàn toàn có thể giải thích bằng đôi mắt’’ nói trên.

Vốn là một nhà văn hiện thực, Nam cao rất có ý thức giải thích một cách hệ thống toàn diện dĩ nhiên bằng các chi tiêt nghệ thuật “đôi mắt” của Hoàng .
Hoàng vốn là một văn sĩ trưởng giả, nhân cách thấp kém “có cái tật hay đá bạn”, trong khi đồng nghiệp “chỉ còn một dúm xương’’ trong nạn đói năm 1945 thì “ Hoàng vẫn phong lưu” nhờ tài … chạy “ chợ đen rất tài tình” và “con chó của anh vẫn chưa phải nhịn đói bữa nào” .

Đặc biệt, khi kháng chiến bùng nổ, bao tầng lớp nhân dân đặc biệt là nông dân sẵn sàng chịu đựng gian khổ thiếu thốn, hi sinh đóng góp sức lực cho cuộc kháng chiến, thì Hoàng vẫn giữ nguyên cách sống cũ, ích kỷ, co mình lại trong vỏ ốc gia đình với những bữa ăn ngon, những món quà vặt lạ miệng, với nhà cửa khang trang với nếp sinh hoạt trưởng giả: Nuôi chó dữ, đọc truyện Tam quốc trước khi đi ngủ, hút thuốc lá thơm, nằm màn tuyn trắng toát, chăn đắp thoang thoảng nước hoa… Hoàng hoàn toàn dửng dưng trước thời cuộc, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của nhân dân của đất nước. ( dĩ nhiên trong hoàn cảnh bình thường, chúng ta có thể nghĩ khác về Hoàng).

Như vậy ở nhân vật này thiếu hẳn sự gắn bó với những người lao khổ ,nói rộng là thiếu sự gắn bó với nhân dân với đất nước ,thiếu cội nguồn nhân đạo cần thiết của một nhà văn . Do đó, “đôi mắt” nhìn người nông dân của Họàng trước trước sau không hiểu nổi người nhà quê, không hiểu cuộc kháng chiến là diều có thể giải thích được .

Đối lập với Hoàng là Độ . Thực ra , phân tích đôi mắt của Hoàng đã hàm chưa việc phân tích đôi mắt của Độ, vì hai nhân vật này được xây dựng để bổ sung cho nhau, làm rõ luận đề của tác phẩm . Vả lại, nhân vật Hoàng đã được miêu tả dưới đôi mắt của Độ .

Trước hết, Độ cũng không thấy ít những điểm yếu của những người nông dân : răng đen, mắt toét, phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhác sợ, nhịn nhục một cách đáng thương … Nhưng điều quan trọng hơn, Độ nhìn thấy được nét chủ yếu trong con người họ . Đó là bản chất tốt đẹp của người nhà quê . Theo anh họ có thể làm cách mạng , mà bằng chứng hùng hồn nhấtt là lúc ra trận, giáp mặt với cái chết, chính anh cũng thấy họ xung phong can đảm lắm . Tin vào sức mạnh của nông dân, cũng có nghĩa là Độ tin vào tương lai của cuộc kháng chiến .

Sở dĩ Độ có được đôi mắt nói trên không phải chỉ vì anh đã sống ở nhà quê nhiều, mà điều quan trọng hơn là anh yêu mến và đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với nông dân, với sự nghiệp chung của cả dân tộc .ngay từ ngày tổng khởi nghĩa, độ đã theo nông dân “đi đánh phủ’’. Sau cách mạng, anh “đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ”’. Từ một nhà văn, Độ sẵn sàng làm người “tuyên truyền nhãi nhép’’ cho cách mạng, anh có thể “ngủ ngay trong nhà in đèn sách và máy chạy ầm ầm’’…

Tóm lại, bằng truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao đã khắc họa hai cái nhìn ( mà thực chất là hai tính cách, hai con người) khác hẳn nhau. Nhà văn biểu dương “đôi mắt’’ đúng đắn của Độ - người nghệ sĩ gắn sự nghiệp của mình với quần chúng, tích cực tham gia kháng chiến; phê phán “đôi mắt’’ chua chát chán nản của Hoàng - một kiểu trí thức ích kỷ, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của dân tộc. Qua đó Nam Cao khẳng định : Nhà văn trước hết phải đứng trên lập trường của người công dân có trách nhiệm với cuộc kháng chiến, phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, kể cả văn chương nghệthuật, và có cái nhìn mới về người lao động - những con người bình thường nhưng vĩ đại. Đồng thời, nhà văn muốn viết đúng phải có “đôi mắt’’ nhìn nhận đúng; muốn nhìn nhận đúng phải có tấm lòng nhân ái.

Chính vì lẽ đó mà nhà văn Tô Hoài coi tác phẩm Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật của cả một lớp nhà văn cũ đi theo cách mạng . Bởi nó đề cập được đến vấn đề đôi mắt của người nghệ sĩ, của nhà văn trong kháng chiến . Đôi mắt ở đây chính là cách nhìn người, cách nhìn đời; nói khái quát hơn là vấn đề quan điểm, lập trường của người trí thức văn nghệ sĩ đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc và người nông dân - lực lượng nòng cốt của cuộc kháng chiến .

Đôi mắt là một truyện ngắn nhưng đã nêu được vấn đề lớn: Vấn đề thế giới quan của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật. Sau ngót nửa thế kỷ, đến nay, điều ấy vấn có ý nghĩa mới mẻ. 

Qua phân tích “đôi mắt’’ của Hoàng và ‘’đôi mắt’’ của Độ, chúng ta không những khâm phục chất trí tuệ sắc sảo, thâm trầm của Nam Cao, mà còn trân trọng tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân với đất nước của một nhà văn luôn phấn đấu cho những gì tốt đẹp trên đời.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ .

Truyện ngắn Đôi mắt là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao sau cách mạng tháng Tám . Đó là tác phẩm ưu tú của văn học Việt Nam thời kì đầu kháng chiến . Tác phẩm không chỉ đơn thuần phản ánh đôi mắt của cá nhân mà còn lớn hơn, khẳng định vấn đề lập trường quan điểm của văn nghệ sĩ . Điều đó đã nâng tác phẩm lên một tầm cao mới, xứng đáng là bản tuyên ngôn nghệ thuật cho cả một thế hệ nhà văn như nhận xét của Tô Hoài .

Nguồn: Sưu tầm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét